[Nghề của tôi] Nghề viết sử: thời buổi này viết sử cho ai đọc?

Trong loại bài Nghề Của Tôi này, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu đến các bạn những chia sẻ, những băn khoăn, trăn trở của người trong nghề về nghề nghiệp của họ. Và hy vọng từ đó, chúng ta sẽ có thêm một góc nhìn khi định hướng nghề nghiệp cho mình hoặc để hiểu thêm những người bạn, người quen đang làm công việc đó,…

Bài viết này sẽ giới thiệu nghề viết sử

“Thời buổi này cậu viết sử cho ai đọc?” Tôi nóng tai, bảo là hy vọng sẽ có người đọc. Sau này con tôi sẽ đọc. Anh bạn cười nhạt. Tôi thấy cay cay trong sống mũi.

nghe-cua-toi-nghe-day-su
Nghề của tôi – nghề viết sử

Vào nghề

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi được cử về Trường văn hóa Quân khu ôn thi đại học, rồi được phân công học ngành nghiên cứu lịch sử, ra trường, được điều về Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, chuyên tâm nghiên cứu lịch sử nhà tù Côn Đảo.

Niềm vui đại thắng kéo dài chưa lâu thì nước ta phải đối mặt với hai cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc trên biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Kèm theo đó là cuộc khủng hoảng nhiều mặt, kéo theo khủng hoảng niềm tin. Nghề dạy sử, viết sử không còn hào hứng như trước nữa. Cuộc sống khó khăn, bo bo, khoai mì trở thành món ăn chính, lấn lướt cơm gạo. Cán bộ, công chức “chân ngoài dài hơn chân trong”, lo xới đất, trồng rau, nuôi heo gà hơn là làm công chức.

Thấy tôi cần mẫn vào thư viện, đến các trung tâm lưu trữ, gặp gỡ nhân chứng, sưu tầm tài liệu, và viết. Một đồng nghiệp cùng cơ quan bảo:

– Thời buổi này cậu viết sử cho ai đọc?

Tôi nóng tai, bảo là hy vọng sẽ có người đọc. Sau này con tôi sẽ đọc. Anh bạn cười nhạt. Tôi thấy cay cay trong sống mũi.

Bốn năm sau, cuốn sách đầu tay của tôi được xuất bản, con gái đầu lòng cũng chào đời, cuộc sống có thêm niềm vui, kèm theo những nỗi lo toan mới. Chút buồn phiền về anh bạn đồng nghiệp nhạt nhẽo với nghề tan biến tự bao giờ.

Ước mơ viết sách cho trẻ con đọc

Con gái tôi biết nói trước khi biết đi, biết đọc trước khi đến lớp. Bé thuộc nằm lòng những câu chuyện cổ tích tôi kể hàng đêm. Kho chuyện cổ tích vơi dần, tôi kể cho bé nghe những câu chuyện lịch sử, theo phong cách cổ tích.

Năm bé tròn 6 tuổi, tôi đưa bé đến hiệu sách, tìm mua một cuốn truyện thiếu nhi. Thị trường sách khi đó mới bung ra, các loại sách kiếm hiệp, truyện Tàu, Quái vật hai đầu, Bảy viên ngọc rồng,… ngự trị, chẳng kiếm được cuốn nào vừa ý. Trong phút chợt buồn, tôi lóe lên ý định sẽ viết cho con mình, những câu chuyện từ lịch sử.

Lang thang qua gian hàng đồ chơi, bé tần ngần trước dàn búp bê Nga, gấu bông Tàu. Tôi cầm lòng nói với con:

– Ba sẽ mua tặng con một món quà con thích nhất, nhưng không phải bây giờ.

– Vì sao hả ba?

– Vì nhà mình còn nghèo.

– Con không thích nhà mình nghèo.

Tôi chợt thấy cay trên mắt.

Cuốn sách cho trẻ thơ

Cuộc đời trả công cho nghề nhiều hơn là lương tháng. Công trình nghiên cứu của tôi được xuất bản mỗi năm một nhiều, nhưng cuốn sách viết cho trẻ thơ vẫn còn ấp ủ, chưa biết viết ra như thế nào. Chuyện đến tình cờ như một duyên may, như một món quà mà cuộc đời trao tặng.

Biết tôi đi nhiều, gặp gỡ nhiều nhân chứng lịch sử, đọc nhiều tài liệu, chị Kim Chi, diễn viên điện ảnh nổi tiếng một thời đề nghị tôi viết kịch bản phim về Võ Thị Sáu. Chị có ý định lập một hãng phim tư nhân, chọn tên là Hãng phim là Hải Đăng, chọn cuốn phim ra mắt về Võ Thị Sáu, người thiếu nữ anh hùng của quê hương Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tôi không thạo kịch bản phim, nhưng truyện về Võ Thị Sáu thì tôi viết được. Bản thảo Võ Thị Sáu – con người và huyền thoại ra đời sau đó vài tuần, chị Kim Chi đọc, lấy làm đắc ý, nhưng Hãng phim Hải Đăng của chị gặp trở ngại, Nhà nước ta chưa chấp nhận cho lập hãng phim tư nhân.

Trong lúc bế tắc, anh Trần Quang Huy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu đứng ra vận động các cơ quan và địa phương đặt hàng, và tổ chức xuất bản cuốn Võ Thị Sáu – con người và huyền thoại, lần đầu một vạn bản. Cuốn sách được độc giả đón nhận, được tái bản nhiều lần, được chuyển thể thành phim, được Nhà xuất bản Kim Đồng đưa vào Tủ sách truyền thống năm 2002.

Con gái tôi rất thích cuốn sách này. Bé thường đề nghị ba ký tặng cho những người thân của bé. Bé tự ý thức về quyền sở hữu một phẩn trong cuốn sách này, như lời hứa tặng quà của ba, lần sinh nhật bé năm lên sáu.

Môi trường sống của sử học

Có đôi lần tôi nhận được giải thưởng trong nghề, nhưng thú vị hơn là khi nhận giải thưởng từ bài viết không thuộc về sử học. Câu chuyện cũng tình cờ như một món quà của cuộc sống trao tặng.

Năm 2005, tôi về Trường THPT Uông Bí dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập trường. Tôi viết bài Người thầy đầu tiên, tặng thầy cô, các bạn và ngôi trường năm ấy. Một bạn thích thú, gửi bài của tôi dự thi, và tôi nhận được giải khuyến khích cuộc thi “Viết tiếp hành trình tuổi hai mươi – Sống đẹp, sống có ích” do Ban Tư tưởng – Văn hóa TW, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Quỹ Mãi mãi tuổi hai mươi phối hợp tổ chức. Các bài viết đoạt giải được in trong cuốn sách Viết tiếp tuổi 20 năm 2006.

Khi nhận giải thưởng, trả lời phỏng vấn một tờ báo chuyên ngành về hiện tượng nhiều học sinh không thích học sử, tôi cho rằng không chỉ là vấn đề giáo trình hay cách dạy, mà nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ hiện thực lịch sử chúng ta đang sống.

Sự thật là môi trường sống của lịch sử. Khi nào mà chúng ta chưa ngăn chặn được tệ dối trá trong lớp người có trách nhiệm, khi nào mà lẽ sống trung thực chưa được trân trọng và đề cao thì học trò sẽ không tin vào những gì mà sử sách đã viết, những lời mà thầy cô đã dạy.

Không riêng môn sử, môn văn cũng không tránh khỏi thực trạng đó. Văn chương cần đất sống, cần có một môi trường để nuôi dưỡng nó. Văn học nghệ thuật là tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống, để cho con người soi mình trong muôn màu huyền ảo, đầy ắp khát vọng tự do và nhân văn. Khi nào mà chúng ta chưa ngăn chặn được lối sống thực dụng, tệ sùng bái chức quyền, tiền bạc, chưa ngăn chặn được sự dối trá trong tư tưởng và hành động thì văn chương sẽ chưa có đất sống, học trò sẽ không thích học văn, người đời sẽ không thích đọc văn.

Sự bùng nổ trong lĩnh vực xuất bản về 2 cuốn Nhật ký của Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm vào thời điểm ấy đã đem lại nhận thức mới cho tư tưởng và lối sống đương thời. Sức cuốn hút mãnh liệt từ Nhật ký Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm trong hàng triệu trái tim thuộc nhiều thế hệ khiến chúng ta tin rằng, lối sống trung thực và lẽ sống nhân văn bao giờ cũng được nuôi dưỡng trong tâm hồn con người Việt Nam. Điều này cần được thể chế hóa và xã hội hóa thành lối sống phổ biến ngự trị trong xã hội, góp phần lành mạnh hóa đời sống xã hội, chữa lành những khiếm khuyết trong tư tưởng và tâm hồn người đương thời, đề cao giá trị thực, đoạn tuyệt với giá trị ảo. Đây chính là một hành trang rất quan trọng cho những thế hệ tuổi 20 vào đời, để tự tin, sống đẹp, sống có ích.

Quà tặng từ trẻ thơ

Con gái tôi không nối nghiệp. Bé thích ngành báo chí – truyền thông. Bé viết bài từ năm lớp 6, cộng tác viên cho nhiều tờ báo, được giải thưởng “Cây bút tuổi hồng”, nhận học bổng du học và xuất bản cuốn sách đầu tay: Cách nhau một ô cửa sổ (Nhà xuất bản văn hóa – văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh 2014). Trong tập sách, có một bài viết tặng ba, nhan đề: Cơm nguội, với cảm xúc chân thật, và thật lãng mạn:

“Cơm nguội. Đó là thứ đầu tiên khi tôi nghĩ đến khi nhắc về ba…

“Cả tuổi thơ tôi gắn liền với cơm nguội…

“Khi bị chọc quê: “Sáng nào cũng ăn cơm nguội ở nhà, tôi trả lời bọn bạn, cơm nguội là món ngon nhất trên đời. Sáng nào tớ cũng ăn cơm nguội, ăn hoài không thấy chán, càng ăn lại càng thấy ngon lạ lùng.”

“Bọn bạn ồ cười, nhỏ này hâm rồi, cơm nguội mà ngon nhất ư.

“Tôi không phản bác, bởi bạn tôi làm sao biết được hương vị tuyệt vời của cơm nguội, khi mà người duy nhất biết cách làm cho món cơm nguội trở nên ngon hơn bất kì thứ thức ăn nào khác là ba tôi?”

Con không nối nghiệp cha là chuyện bình thường. Đời có muôn nghề, nghề nào cũng cần những người tận tâm, trung thực.

Một thế hệ ăn bo bo, ăn khoai mì đánh giặc, một thế hệ ăn cơm nguội, cầm cây bút tuổi hồng vẫn có thể sát cánh trên con đường hội nhập những giá trị nhân văn, tinh hoa của dân tộc và nhân loại.

Lập nghiệp cũng là lập thân. Tận tụy với nghề cũng là trách nhiệm với đời. Chỉ khi nào sống hết mình với nghề, với người, với cuộc đời mới cảm nhận được thú vị của cuộc đời và nghề nghiệp, từ một hạt cơm nguội.

(theo Nguyễn Đình Thống – cafebiz)